CAPITULO 6 ANÁLISIS DE RESULTADOS
6.1. Medición de la gestión del conocimiento
6.1.3. Nivel de Aplicación
Ấ d r ® c a b . — - ... - ... F1'"" ' — -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- 0 s ỷ * % đ i f f 0 ịjo f & W * £ & g • J c % (Ễ 5 T Q ở S L Hình 146
MEN Sacckaromycopsis fibuligera (Lindner) Kloecker. (Hình 147: a,b và c; a,b X 825; c,x 2030
1. Tế bào hình cầu tới giống elipxoit dẫn tới th àn h chồi. Sợi nếm giả và nhiều sợi nấm th ậ t hình thành.
2. Túi hình th àn h với sự tiếp hơn ban đầu của tế bào trưởng th àn h có hoặc không. Bào tử túi hình mũ trong túi hình cầu, sinh ra ở cuối hoặc phía bên của sợi nấm, 2-4 trong mỗi túi. Bào túi đểu sớm giải phóng.
3. Không hấp thu n itrat
4. Lên men GI + w, Gal s + w, M + w, L-, R+,
5. H ấp thu GI +, Gal s +, M +, L-, Sorb Cel +, Rv.
MEN Yarrowia lipolytica (Wickerham & al.) van der W alt & von Arx. (Hình 147 d
và e, X 2030
1. T ếbào cận cầu tới hơi elipxoit, đôi khi khá dài. Sợi nấm giả và hình thành nhiều sợi nấm thật.
2. Túi được hình thành sau khi tiếp hợp hai tế bào trưởng thành. Bào tử túi hình cầu, hình mũ, hình quả chuối hoặc các hình khác, vách trơn, 1-4 bào tử cho một túi.
3. Không hấp thu n itrat 4. Không lên men
5. Hấp thu: GI +, Sorb.v, các thứ khác -
MEN Kluyveromyces lactis (Dombrowski) van der wait. (Hình 147: f,x 2030) 1. T ế bào hình cầu, elipxoit tới hình trụ. Sợi nấm giả khá to và thô nếu có. 2. Túi hình thành có hoặc không sự tiếp hợp trước hai tế bào trưởng thành. Bào tử túi hình cầu tới elipxoit, vách trơn, 1-4 cho mỗi túi. Bào tử sóm giải phóng và dính kết.
3. Không hấp thu n itrat
4. Lên men: GI +, Gal +, Sv, M+ w hoặc L +, Rv. 5. Hấp thu GI +, Gal +, s +, Mv, Lv, Sorb.v, Cel +, Rv.
MEN Hansenuỉa anomala (Hansen) H & p. Sydow (Hình 147: g,h và i, X 2030 1. T ế bào hình cầu, cận cầu hoặc elipxoit. Đôi khi có sợi nấm giả.
2. Túi hình th àn h không có sự tiếp hợp trước. Bào tủ tú i hình mũ, 1-4 cho một túi.
3. H ấp th u h iira t
4. Lên men GI +, tốì thiểu một disacchariđe +
Hình 147
MEN Candida krusei (Cast) Berkhout {Hình 148: a, X 2030)
1. T ế bào cận cầu tới hình trụ. Sợi nấm giả p h át triển tốt 2. Không có bào tử tú i hỡặc bào tử đảm
3. Không hấp thu n itrat 4. Lên men: chỉ lên men Gl. 5. Hấp thu: chỉ hấp thu Gl.
MEN Trichosporon beigeỉiỉ (Kuechenmeister & Kabenh) Vuil. (Hình 148: b, X 825) 1. Tế bào hình cầu, cận cầu hoặc elipxoit. Hình th àn h sợi nấm th ậ t và giả. Sợi nấm thường gãy thành bào tử đốt.
2. Không có bào tử túi hoặc bào tử bầu. Đôi khi tiệm biến nội bào 3. Không hấp thu n itra t
4. Không lên men
5. Hâ'p thu: GI +, Gal V, s V, L+, Sorb.v, Cel V, R V.
MEN Candida pseudotropicalis (Cast.) Basgal. (Hình 148: c và d; c X 825, d, X 2030) 1. Tế bào hình cận cầu tới elipxoit. Sợi nấm giả phát triển tốt.
2. Không có bào tử túi nhỏ hoặc bào tử bầu. 3. Không hấp thu n itrat
4. Lên men GI +, Gal +, s +, M-, L+, R+ hoặc yếu.
5. Hấp thu: GI +, Gal +, s +, M L +, Sorb. Cel +, R+.
MEN Brettanomyces intermedius (Krumbh & Tausch) van đer W alt & van Kerken). (Hình 148: e và f, X 2000)
1. Tế bào hình cầu, elipxoit hoặc trụ tỏi kéo dài. Thưòng có hình cung nhọn 2. Không hình thành túi hoặc bào tủ bầu
3. N itrat hấp thu hoặc không
4. Lên men: GI +, Gal + (chậm), s +, M + (chậm), L-, Rv.
NẤM MỐC ĐỘC VÀ ĐỘC Tố CỦA CHÚNG (ĐỘC T ố VI NẤM)
NHOM MÔC HOA c ú c VÀNG (Aspergillus flavus-oryzae group) (h. 149)
(La tinh: flavus là màu vàng)
- Khóm môc trên Czapeck, MEA, PDA dạng thảm thô hoặc dạng sợi, mọc lan tràn, màu sắc thay đổi, từ màu xanh vàng tươi biến thành màu xanh vàng sẫm hoặc nâu vàng.
Hình 149. Nhóm hoa cúc vàng
A và B khóm mốc trên thạch Czapek, sinh hạch nấm. c, mốc hoa cúc vàng thứ cột trên thạch
Czapek sau 10 ngày ở nhiệt độ phòng thí nghiệm. D. Mốc hoa cúc vàng kỷ sinhvới điều kiện tương tự. E đầu hạt đính điển hình của M ốc hoa cúc vàng xoè ra, X 48. F, đầu hạt đính Mốc hoa cúc vàng thứ cột hình cột trên thạch mạch nha.
- Đầu hạt đính hình bán cầu, hình cầu, hình cầu dẹt, hình bức xạ hoặc hình trụ.
- Cuông h ạ t đính: xù xì hoặc có gai nhỏ, không màu, tương đối dài.
- Bọng: hình thái bất nhất, đầu hạt đính nhỏ thì bọng tròn, đầu hạt đính lớn thì bọng hình cầu.
- Thể bình: mọc một hàng hoặc hai hàng.
- H ạt đính: phần lớn xù xì, hình tròn hoặc hình quả lê, màu sắc thay đổi khác thường, và giông màu khóm mốc.
- Hạch nấm: có một số chủng sản sinh hạch nấm, từ màu nâu đến màu đen. - Trong nhóm này quan trọng nhất là Mốc hoa cúc vàng (Aspergillus flavus) và Mốc hoa cúc gạo (A. oryzae). Để phân biệt phải căn cứ vào màu sắc khóm mốc. Khóm mốc A. flavus từ màu vàng đến màu xanh vàng rồi thành màu xạnh nâu, phần nhiều mọc hai hàng cuống: cuông thể bình và thể bình, chiều dài của cuông hạt đính là 400 - 1000 fi.m, còn màu sắc của khóm mốc hoa cúc gạo là màu vàng, rấ t ít màu xanh rồi thành màu nâu vàng, có một hàng thể bình, chiều dài cuống h ạt đính từ 2 (.im trở lên. Hai loại mốc này đều có khả năng sinh nhiều amylaza, proteinaza, và lipaza có khả năng phân giải rất mạnh. Mốc hoa cúc vàng sinh ra chất độc huỷ hoại sức mọc mầm của hạt giông.
- Nhiệt độ và ẩm độ sinh trưởng tối thiểu là 6-8° c, nhiệt độ thích hợp là 30 - 38° c, tối đa là 44-47° c. Âm độ tương ứng để bào tử mốc hoa cúc vàng nẩy mầm là 80%, ẩm độ thích hợp sinh sản vô tính là 86%.
- Trong nhóm Mốc hoa cúc vàng có 11 loài thì có 2 loài Mốc hoa cúc vàng Link và mốc hoa cúc ký sinh Speare là có khả năng sinh sinh độc tổ’ mốc aflatoxin có khả năng gây bệnh cho động vật và người.
HOA CÚC VÀNG LINK cAspergillus Link) (h. 150)
- Khóm mốc trên môi trường Czapek ở 25° c đường kính đạt 3 - 5 cm trong 7 ngày, thông thường một lốp nỉ cuông hạt đính vàng xanh lá cây.
- Đầu hạt đính xoè ra điển hình, sau đó chia ra nhiều cột ròi rạc, màu vàng- xanh trở thành vàng-xanh xỉn.
- Cuống hạt đính trong suốt, thô ráp cao tối 2,5 mm. - Bọng hình cầu tới cận cầu, đường kính 20 - 45 jam.
- Thể bình sinh ra ngay trên bọng; hoặc trên lốp cuống thể bình, -10 X 4,5 - 5,5 |im.
- Hạt đính từ hình cầu tới cận cầu, đường kính 3-6 um, màu xanh lá cây nhạt, có gai rõ rệt.
- Hạch nấm thường sinh ra khi mới phân lập, thay đổi hình và kích thước, thường nâu tối đen.
- Khóm mốc mọc trên MEA nhanh hơn, các mặt khác thì tương tự L ưu ý:
- Việc phân biệt rành rẽ Hoa cúc uàng vổi hoa cúc ký sinh hoa cúc gạo và các loài khác tương tự thường khó khăn do nhiều dạng quá độ xuất hiện.
- Loài mốc này trên lạc có khả năng sinh aílatoxin - Gây bệnh có tính chất cơ hội.
Hình 150. Mốc hoa cúc vàng Link: cuống hạt đính và hạt đính
a. Trên Czapek khóm mốc sau một tuần
b. Trên MEA khóm mốc sau một tuần
Hình 151.
A. Hạt tiểu mạch bị mốc hoa cúc vàng xâm nhiễm nghiêm trọng B. Mốc hoa cúc vàng phát triển trên phôi hạt ngô.
c. Đầu hạt đính hoa cúc vàng có một lớp thể bình, cuống hạt đính xù xì (720X) D. Đầu hạt đính hoa cúc vàng có hai lớp: cuống thể bình và thể bình (780X) E. Bọng đầu hạt đính hoa cúc gạo vách mỏng, hai lớp cuống (148X) F. Đầu hạt đính hoa cúc gạo có một lớp cuống, hạt đính xù xi (775 X) (Theo sô' tay nấm mốc Aspergillus Thom và Raper)
(La tinh: parasiticus: ký sinh) - Khóm mốc trên thạch Czapek ỏ 25° c đương kính tới 2,5 - 3,0 cm trong 7 hôm, thường có lớp nỉ dày cuông hạt đính xanh lá cây.
- Đầu hạt đính toẻ ra, cuông hạt đính hầu hết dài 300-700 |j.m, trong suốt, vách xù xì.
Bọng cận cầu,
đường kính 20 - 35 (im.
Thể bình sinh ra
trực tiếp trê n bọng, 7-9 X 3 -
4 Ị.im, ti’ong suôt tới xanh lá cây nhạt. Hạt đính hình cầu, đường kính 3,5 - 5,5 1-im, vàng-xanh lá cây, vách xù xì rõ ràng. Khóm mốc trên
MEA phát triển nhanh hơn, hoặc tương tự.
L ưu ý:
Hoa cúc ký sinh có đặc
điểm đầu hạt đính toẻ ra,
chỉ có một lớp thể bình. Ngoài ra nó tương tự như hoa cúc vàng thứ cột có đầu hạt đính hình cột.
Mốc này sinh aflatoxin và gây bệnh có tính cơ hội
NHÓM MỐC HOA c ú c MÀU ĐÂT SON (Aspergillus ochraceus group) (h. 153)
(La tinh: ochraceus là màu đất son)
Khóm mốc dạng nhung, trên Czapek ò 25° c đường kính đạt 2.5 - 3.5 cm trong 7 ngày, có ít nhất 10 loài màu vàng lưu huỳnh, màu gạo vàng đến màu nâu.
Đầu hạt đính: giông màu khóm mốc, hơi to, lúc đầu hình cầu sau tách ra thành hai hoặc nhiều bó.
- Cuống hạt đính dài tới 1,5 mm: màu vàng, vách xù xì, tương đối to. Bọng: hình cầu hoặc cận cầu, đường kính 35 - 60 ịim.
- Thể bình: mọc trên cuống , 7 - 11 - 2.0 - 3.5 um. Cuống 15 - 20 X 5 - 6 fxm.
MOC HOA CÚC KÝ SINH {Aspergillus parasiticus Speare) (h. 152)
© É
©
©
, 10»m ,
Hình 152. Mốc hoa cúc ký sinh: cuống hạt đính và hạt đính
ệ t ì
Hình 153. Mốc hoa cúc màu đất son
Nhóm Mốc hoa cúc màu đất son trên thạch Czapek ở nhiệt độ phòng thí nghiệm, 10 ngày. A và B: khóm mốc, C: đầu hạt đính, cấu tạo đầu bào tử: hai lớp thê binh, cuống hạt đính xù xì
H ạt đính: hình cầu hoặc cân cầu, 2.5 - 3.0 um có loại vách mỏng và bóng, có loại vách hai lớp, mặt ngoài xù xì.
Hạch nấm: phần lớn hệ mốc này đều có hạch nấm, màu bơ, màu vàng nhạt và màu đỏ nhạt... trong đóA. sclerotium có rấ t nhiều hạch nấm, có một sô"hệ không sinh hạch nấm nhưng sản sinh nhiều h ạt đính.
Khóm mốc trên môi trường MEA mọc nhánh, cuông hạt đính không nhiều và giảm sinh hoạt nấm.
Nơi sống:
Trong lương thực thường thấy là mốc hoa cúc màu đất son, độ ẩm tương ứng tối thiểu để bào tử nảy mầm là 86%, chủ yếu tác hại lương thực có hàm lượng nước là 16%.
Ỏ Việt Nam đã gặp mốc hoa cúc màu đất son trên đậu tương, đậu xanh, đậu trắng, đậu đen, nước chấm lên men, lạc, thóc, mì ăn liền, lương khô.
Nhiều loài mốc hoa cúc màu đất son sinh độc tô' vi nấm ochratoxin và có thể sinh bệnh có tính chất cơ hội.
L ư u ý:
Mốc hoa cúc melleus Yakawn hạt dính hình cận cầu tói elipxoit, các hạch
nấm màu vàng tới nâu, còn loài này thì không.
Hỉnh 154. M óc hoa cúc màu đất son. Cuống hạt đính và hạt đính Khóm mốc sau một tuần, a, trên cz, b. trên MEA
NHÓM MÔC HOA c ú c NHIỀU MÀU
(.
Aspergillus versicolor group)(h. 155)
(La tinh: versicolor có nghĩa là nhiều màu hoặc đổi màu)
- Khóm mốc: Trên thạch Czapek ở 25° c, đường kính đạt 1.0 - 1.5 cm trong vòng 7 ngày, bào tử thường nghèo nàn sau tuần đầu, nhưng phong phú hơn
ở ngày thứ 14, dạng nhung hoặc
dạng lông mềm, sinh trưởng cục bộ, phạm vi thay đổi màu sắc rất rộng, nhưng thường là màu xanh hoặc xanh lam, tuỳ giông khác nhau nên màu sắc khác nhau, như màu xanh nhạt, màu xanh vàng, màu xanh xám. Cùng một khóm mổc cũng có màu sắc khác nhau. Mặt trái màu hoa hồng,
màu đỏ tươi hoặc màu đỏ tím. Hình 155. Mốc hoa cúc nhiều màu
Đầu hạt đính: hình cầu Trên môi trường Czapek, ở nhiệt độ phòng thí hoăc bán cầu, có những màu sắc nghiệm sau 10 ngày, khóm mốc ớ A và B phong phú, khác nhau, nhưng thưòng là màu màu xanh lạ cây nư6c ri màu đo sàm vé sau thành xanh hoTo màu xanh lam, tứong m.àu hổn? cúc n90àl điểm của nh6m'
" ,7 , , \ , . vẽ sau sơi nam kêt bong, đôi nhỏ và toe ra như nan hoa.
- Cuông hạt đính: bóng nhẵn, không màu, thẳng hoặc cong. Bọng cận cầu, hình trứng hoặc viên chuỳ, đường kính 12 - 16 |am. - Cuông thể bình 5.0 - 7.5 X 2.0 - 2.5 |j.m. - Thể bình mọc trên cuống 5.5 - 8.0 X 2.5 - 3.0 |nm. Hạt đính hình cầu, đường kính 2 - 3.5 um, có gai . - Khóm mốc trên MEA mọc nhanh hơn, ít sợi nấm khí sinh, màu xanh lá cây sẫm hơn.
Trong nhóm này chủ yếu là mốc
hoa cúc nhiều màu và mốc hoa cúc
sydowi, về hình thái thì hai loại này tương tự như nhau, nhưng về màu sắc thì khóm mốc hoa cúc nhiều màu màu xanh không lẫn màu lam, còn môíc hoa cúc sydowi thì màu xanh có lẫn màu lam. Còn đầu hạt đính mốc hoa cúc
nhiều màu hình bán cầu hoặc gần giống Hình i 56 Mốc hoa cúc nhịều màu x 1 975
bán cầu, còn mốc hoa cúc sydowi chủ cô hai lộp thể bjnhi yếu là hình cầu bức xạ.
Nơi sống:
Mốc hoa cúc nhiều màu (Aspergillus versicolor) thích hợp
với nhiệt độ trung ình, nhiệt độ sinh trưởng thấp nhất là 4-5° c, thích hợp n h ất là 25-30° c, cao nhất là 38-40° c. Độ ẩm tương đối để bào tử nẩy mầm là 76 - 78%, sinh sản vô tính là 80%; lương thực có hàm lượng nưốc trên dưới 15% thì bị mốc hoa cúc
nhiều màu phá hoại. Gao bị
nhiễm mốc sẽ biến thành màu trắng đục, nhưng không có độc tính.
ơ Việt Nam người ta tìm Hình 157. Mốc hoa cúc nhiều màu và hạt đính
thấy mốc hoa cúc nhiều màu ở
trên hạt đậu tương, đậu xanh, đậu trắng, đậu đen, lạc, thóc, gạo, nước dứa, nhưng
(Mô tả chi tiết xin xem
Emericella nidulans, trang 49)
Trong nhóm này thì mốc
hoa cúc tô chim (Aspergillus nidulans) là chủ, thuộc mốc ưa
nhiệt độ trung bình, nhiệt độ sinh trưởng thấp nhất là 6-8° c, nhiệt độ thích hợp nhất 25-30° c, cao n h ấ t là 48-50° C; bào tử túi con và "tế bào hủlle" bị diệt ở 95° c trong 10 phút.
Bào tử mốc nẩy mầm ở độ ẩm 80%, sinh sản vô tính ở 85%, sinh sản hữu tính thì cần 90%.
Mốc này nhiễm vào gạo đưa tới gạo bị màu nâu nước chè. Hạt gạo bệnh thì một phần hoặc toàn bộ từ màu da cam đến màu son, nhưng màu đậm nhạt không đều, phơi nắng thì màu giảm dần, không có mùi hôi. Nơi sống:
Phân bố rộng khắp trên thế
giới: tìm thấy đặc biệt ở trong đất, A- cấu trúc đính: cuốn9 hạt đính từ môi trường
ở khoai tây, thổc lúa, cam chanh, kh! s'n!1^■ Ã I a * . _ _ ũ 1 ~ _ _ ĩ B. Phân khóm môc trên thạch Czapek CÓ thế quả kín.
hạt giống yên mạch, lúa mi ngô “ Tí bào vỏ dây (rale ceil); D. Luu y gò xich đạo' cao lương, gạo, hạt bông. Mốc này
có thể gây bệnh cho người và động vật.
ở Việt Nam người ta tìm thấy mốc hoa cúc tổ chim ở trên vừng, thóc, gạo.
MỐC CHỔI BĂNG ĐẢO (.Penicillium islandicum Sopp) (h. 159)
(La tinh: islandicus là băng đảo)
Mốc thuộc nhóm chổi cân, hệ mốc chổi dạng dây, tên mốc băng đảo
- Khóm mốc: trên thạch Czapek, ở 25° c từ 10 - 12 ngày, đưòng kính đạt 20 - 34 mm, điển hình dạng dây, có đường vằn rõ rệt và nếp nhăn phóng xạ có đôi chút. Màu sắc khóm mốc biến chuyên nhiều, như màu da cam, màu hồng, màu nâu và màu xanh vàng sẫm, sợi mốc và hạt đính kết thành vân hình bánh xe và mặt khóm nấm dạng giạ thô, quanh khóm mốc có viền rộng khoảng 0,2 - 0,5 mm màu vàng, màu quả quất, màu chanh đào, khu hạt đính màu xanh vàng sâm, rồi dần biến thành sẫm hoặc xanh trám vàng; dịch thấm ít hoặc nhiều, màu chanh, hồng chanh hoặc nâu chanh; mùi vị không rõ ràng hoặc tương đôi rõ. Mặt trái khóm mốc màu nâu chanh hoặc màu hồng sẫm, lượng lớn sắc tô' hoà tan làm cho môi trường thành màu chanh, màu hồng sẫm hoặc màu vàng.
NHOM MOC HOA c ú c TÔ CHIM (.Aspergillus nidulans group) (h. 158)
Hình 159.
A và B, Mốc chổi băng đảo Sopp, mười ngày tuổi trên thạch Czapek và mạch nha. c. Mốc chổi mụn cơm Peyronel, mười ngày tuổi trên thạch mạch nha.
D, E và F, Mốc chổi varicem Smith, khóm mốc trên thạch mạch nha ở ngày thứ mười. E, chồi cân, X 1000. Cuống đính bào tử trông nặng trình trịch, vách hơi lục thường dạng tế bào chân của mốc hoa cúc X 1000.
- Dạng chổi: dạng chổi cân, tương đôi ngắn. Nếu có chia nhánh thì ngọn nhánh cũng có kết cấu đối xứng.
- Cuông hạt đính: ngắn, mọc từ sợi nấm khí sinh hoặc từ bó sợi có trường hợp từ môi trường, 20 - 120 X 2,3 - 3,0 um, ngọn 2,5 - 3,7 um. Vách nhẵn bóng.
- Cuông thể bình: 5 - 8, thành vòng không chỉnh, ken sít nhau, hoặc toẻ ra
ít n h iề u , 7,5 - 11,2 X 2,1 - 3,1 Jj.m.
- Hạt đính: hình thoi hoặc hình elipxoit, 3,0 - 4,4 X 2,3 - 3,7 fam, mặt bóng nhăn hoặc gần như bóng nhẵn, kết thành chuỗi dài 60 - 90 |0.m.
Nơi sống:
Môc này phân bố rất rộng, những nơi sản xuất thóc gạo trên th ế giới đều có, phần nhiều phân lập được trên gạo rồi đến ngô, sau đó đến đại mạch, ít phát hiện được trong tiêu mạch. Một số có độc tính, gạo trắng bị mốc sẽ ngả màu nâu vàng, còn gạo xô sau khi bắt màu nâu vàng thì bị xốp, có độc tính, Nhật Bản gọi là “gạo biên vàng It-lan-đi-a (Islandia yellowsis rice). Khi gạo bị mốc thành màu vàng chanh đến màu nâu chanh, trên hạt gạo có những đóm mốc, gạo dòn, dễ gẫy vụn. Độc tô" của mốc này là "islandicin, luteokyrin” dễ tan trong aceton, dung môi hữu cơ, cũng tan trong nưốc. Từ gạo bị mốc dùng làm thức ăn nuôi chuột hoặc mổc thuần chủng nuôi cấy chiết độc tố" thí nghiệm trên chuột bằng cho uống hoặc tiêm, chuột bạch thí nghiệm trong thời gian ngắn bị xơ gan mà chết.
Chú ý: Mốc băng đảo sinh nhiều độc tố nhưng không lây nhiễm. MỐC CHỔI NHẢN NHEO
(Penicillium rugulosum
Thom) (h.160)
(La tinh: rugulosus = nhăn nheo) Thuộc nhóm chổi cân, hệ mốc chổi nhăn nheo. - Khóm mốc: trên thạch Czapek ở 25° c mọc hạn chế, điển hình dạng nhung hoặc kèm theo dạng sợi bông, mặt phẳng lì hoặc có nếp nhăn dạng phóng xạ, có viền trắng bao quanh rộng khoảng 0,5 - 1,0 mm. Trung tâm khóm mốc hoặc một khu vực ken sợi mốc màu vàng hoặc màu nâu quất; vùng hạt đính màu xanh vàng tối biến dần thành xanh tối; dịch thấm có hoặc ít, hơi màu nâu, mùi không rõ ràng; mặt trái khóm mốc có khoảng đốm màu hồng chanh hoặc màu nâu chanh hoặc hoàn toàn thay đổi màu sắc có khi bộ phận trung tâm màu ô liu, chung quanh không màu, dần biến thành màu vàng nhạt.
Hình 160.
A, B, và c Mốc chỏi nhăn nheo Thom, trên thạch Czapek, nước ngâm hạt ngũ cốc và mạch riha thể hiện các khóm
m ốc điển hình. D, chi tiết vé chổi, X 900. E và F. Mốc chổi
chậm Thom trên thạch Czapek và mạch nha vào ngày
Dạng chổi: chổi cân
- Cuông hạt đính: từ sợi nấm trong môi trường mọc ra, có lúc chia nhánh, phần lớn 120 - 190 X 2,3 - 3,0 (im, ngọn phình to, rộng 3,4 - 4,4 |Lim.
- Cuống thể bình 4 - 7 cái, ken sát nhau hoặc ít nhiều thưa ra, 9.3 -
12.3 X 2.1 - 2.8 |Lim, đầu cuôl 2.5 - 2.8 (im.
Thể bình 4 - 5 cái thành cụm, ken sát nhau cố hình trụ rõ ràng hoặc đôi khi hình mũi giáo (lanceolate), 8,1 - 11,2 X 1,8 - 2,4 |xm.
- Hạt đính: hình elipxoit hoặc
hình trứng, đại bộ ph ận 2,5 - 3,7 X 1,8 -
2,8 |um, m ặt có gai hoặc bướu xù xì kết thành chuỗi lỏng lẻo hoặc toẻ ra, dài tới 60 - 90 |im.
Nơi sống:
Mốc chổi nhăn nheo thường phân lập được ở gạo trắng bị mổíc ở dạng bột
phấn màu nâu vàng, trên đốm gạo xô. Mốc này sản sinh độc tố rugulosin dẫn tới động vật thí nghiệm bị bệnh gan và thận.
ỏ Việt Nam đã gặp trong đậu xanh, đậu đen, nước chấm, nước dứa, thóc và nhất là gạo.
MÓC CHỔI MÀU VẢNG NHẠT (Penicillium citrinum Thom) (h. 162)
(La tinh: citrinus: màu vàng nhạt)
Thuộc nhóm không đối xứng, nhóm phụ dạng nhung (velutina) hệ mốc vàng nhạt. Khóm mốc: mọc hạn chế hoặc phát triển trên thạch Czapek, ở nhiệt độ 25° c từ 10 - 12 ngày, đường kính đạt 32 - 48 mm, phần lớn dạng nhung, có loại dạng bông, bề mặt khóm mốc có nếp nhăn hình nan hoa, xung quanh rìa khóm mốc lông tơ màu trắng, khoảng 0,2 - 2,0 mm, khu hạt đính màu xanh, xanh vàng, có vòng màu đẫm nhạt khác nhau, khi già là màu xanh xám, có nhiều hoặc ít dịch thấm màu vàng nhạt tươi; có một số có vị mốc rõ rệt, nhưng có loại không có. Mặt trái khóm mốc thường có màu vàng tươi, màu da cam hoặc màu nâu da cam, sắc tố tan trong nước, làm cho môi trường đồng màu.
- Dạng chổi lệch, thông thường không chia nhánh, hơi toẻ ra. - Cuông hạt đính mọc từ môi trường, vách cuông bóng nhẵn, kèm theo
màu vàng, 60 - 230 X 2,1-3,7 fj.m.
- Cuông thể bình: 2-6, mọc vòng trên cuông hạt đính, mọc đều hàng hoặc
hơi toẻ ra, 10 - 16 hoặc 23 X 2,1 - 3,4 hoặc 4,3 |j.m, gốc tròn to, ngon phình to, rộng 3,0 - 6,2 Jim.
Hỉnh 161. Mốc chổi nhăn nheo cuống hạt đính và hạt đính
Hình 162. Nhóm m ốc chổi vàng nhạt
A. Mốc chổi corylophilum Dierckx: A„ phác họa cầu trúc conidi. A2, vẽ chi tiết về chổi điển hình. B, Mốc chổi vàng nhạt thom: Bv chổi tạo thành cột conidi. B2l về chi tiết.
- Thể bình hình cổ chai 3 - 8 hoặc 10 cái, xếp thành vòng đều trên cuống thể bình, 7,5 - 12,5 X 1,5 - 3,0 Ịim.
- Hạt đính: hạt đính hình cầu hoặc cận cầu, đưòng kính 1,5 - 3,3 um, bể mặt nhẵn bóng hoặc gần như nhẵn bóng. Chuỗi hạt đính hình trụ dài nhỏ, 60 -
120 fam hoặc 300 Ịj.m.
Mốc 'chổi màu vàng nhạt là mốc hoại sinh, thường gặp, có thể gây thối rữa
nhiều vật chất hữu cơ, tiếp cận sông khô, độ ẩm tương đối thấp n hất để bào tử nẩy mầm là 80%, nhiệt độ cao nhất để mốc trưởng thành là 37° c, thường phân lập được ở trong lương thực, nhất là các nước trên th ế giói sản xuất gạo. Gạo bị mốc này thì bắt màu vàng và có độc tính.
Nhật Bản gọi là "Gạo biến vàng Thái Lan" {Thailand, yellow sis rice).
Gạo trắng bị mốc ngã từ màu vàng n hạt sang màu vàng, gạo xô màu vàng nhạt, không có đốm mốc, sau khi mốc phát triển thì hạt gạo màu vàng xuất hiện màu xanh nhạt, gạo bị bệnh đem chiếu tia tử ngoại thấy có huỳnh quang màu vàng. Cấy mốc này vào gạo, rồi cho chuột nhắt ăn, 80 ngày sau chuột bị bệnh thận trúng độc mà chết; độc tô" mốc chổi vàng chanh công thức hoá học C13H 140 5, có thể tan trong dung môi hữu cơ, (xem phần mycotoxin).
ơ Việt Nam đã tìm thấy ở trong nước chấm lên men và trong nưốc dứa.
MỐC CHỔl TÍM TÍA (Penicillium purpurogenum Stoll) (h. 164)
(La tinh: geno = gây nên, vì lý do đó sinh ra màu đỏ tía) thuộc nhóm chổi cân, hệ mốc chổi tím tía).
Thuộc nhóm đối xứng kép, hệ mốc chôi tím tía.
Khóm mốc: trên thạch Czapek mốc sinh trưởng bị hạn chế nhất định, ở 25° c sau 5 ngày đưòng kính 6 - 18 mm, 10 - 12 ngày là 22 - 44 mm; điển hình dạng nhung, hoặc dạng tương tự như nhung, dạng len, bề mặt phẳng lì bao quanh
m àu trắ n g xám, vàng, hồng quất, hồng p h ấn m àu pha trộn, rìa rộng 0,2 - 4,0 mm,
sợi nấm khí sinh nhiều hoặc ít, không màu, màu vàng, màu hồng phấn, màu quất hoặc màu hồng đỏ; khu h ạt đính màu xanh vàng dần màu xanh tối; không có nước thấm hoặc cực ít, màu hồng đỏ; mùi mốc không rõ rệt hoặc nhẹ; mặt trái màu hồng đỏ hoặc màu hồng tía hoặc màu hồng tím, thạch chung quanh củng có màu như vậy hoặc n hạt ít nhiều.
- Dạng chổi: điển hình chổi cân.
- Cuống hạt đính: mọc thẳng từ môi trường, có khi từ sợi nấm khí sinh,
30-190 X 2,5 - 4.1 |0.m, ngọn 3,3 - 6,3 Jim, m ặt trơn bóng hoặc có h ạ t xù xì.
- Cống thể bình: 5 - 8 cái làm thành vòng ken sít nhau, 9,3 - 14,2 hoặc 18,8 X 2,0 ~ 4,7 |0.m.
- Thể bình: 4 - 8 thành một cụm, 10-17,5 X 1,7 - 4,0 fam, hình kim ngọn nhỏ và nhọn dần.
N ơi số n g :
Hạt đính: hình elipxoit đến hình trứng, 2,3 - 3,8 X 1,6 - 3,2 um, thường có cõ to 4,2 - 6,2 X 3,0 - 3,2 Ịim, mặt trơn bóng. Hạt đính kết thành chuỗi dài tới 30
- 180 f.im. Nơi sống:
Mốc chôi tím tía phân lập được từ trong đất, trong hoa quả trong gạo bị mốc
và trong chất hữu cơ thôi rữa. Gạo trắng bị mốc thì bắt màu hồng, gạo xô bị mốc thì bắt màu đường phên, có những đốm mốc màu đỏ tía.
ơ Việt Nam đã gặp trên đậu xanh, đậu đen, nước chấm lên men, và trên nước dứa.
Hình 164. Mốc chổi tím tía
A và B khóm mốc 10 ngày tuổi trên thạch Czapek và mạch nha. c. Chồi ở độ phóng đại X 200; D. Chồi to hơn, X 1000.
E và F khóm mốc mười ngày tuổi trên thạch Czapek và mạch nha. Mặt trái khóm mốc và thạch Czapek nhanh chóng chuyển sang màu đỏ sẫm ở A và E.
(Hy lap: kyklops là mắt tròn, nhắc tới hình dáng vòng tròn cân đôi của khóm mốc). - Khóm mốc: trên môi trường Czapek phát triển nhanh, đường kính đạt 2 - 4 cm trong 7 ngày, (4,5 - 5 cm trong vòng 14 ngày), đôi lúc phát triển chậm hơn, đường kính chỉ 3,0 - 3,5 cm. Màu điển hình xanh lục thường có h ạ t rõ rật, tối thiểu ở vùng rìa. Mốc chổi mắt tròn Westling hầu hết dạng nhung nhưng hình thành bó rõ rệt ở vùng còn non hơn; mặt trái thường màu hoa đào nhạt, nhưng thỉnh thoảng màu vàng tươi rõ ràng hoặc màu nâu hơi đỏ tía.
- Cuống hạt đính hơi xù xì (khi nuôi cấy trên MEA càng rõ), đường kính 3 - 3,5 fim.
- Thể bình 7-10 X 3 - 5 J.im.
- Hạt đính cầu tới gần giông hình cầu, trơn hoặc hơi xù xì, đường kính 3 - 4 Ịim, mọc thành chuỗi rối tung.
- Trên môi trường mạch nha vách cuông h ạ t đính xù xì càng rõ mùi đất, mùi mốc, đôi khi mùi thơm.
MỐC CHỔI VÒNG CUNG (MAT TRÒN) (Penicillium cyclopium W estling) (h. 165)
Hình 165. Mốc chổi vòng cung (mắt tròn)